Doanh nghiệp và vai trò của lãnh đạo

Thứ bảy - 12/11/2016 05:14

Doanh nghiệp và vai trò của lãnh đạo

Lãnh đạo doanh nghiệp là người đứng đầu doanh nghiệp (người đứng ra thành lập doanh nghiệp và đảm nhận vai trò quản lý doanh nghiệp
Hoặc người được thuê để điều hành doanh nghiệp), trước hết có trách nhiệm xây dựng tầm nhìn tương lai cho doanh nghiệp; tập hợp, khuyến khích mọi người hành động, thực hiện tầm nhìn đó; trách nhiệm tìm kiếm cơ hội và thực hiện những thay đổi chiến lược mang đến sức cạnh tranh cao và phát triển bền vững cho doanh nghiệp.
 
Điểm khác biệt cơ bản nhà lãnh đạo và người quản lý ở chỗ người quản lý chỉ cần thực hiện tốt việc triển khai kế hoạch, duy trì vị thế, kiểm soát hoạt động, nghĩ về những gì trước mắt còn nhà lãnh đạo phải đề ra chiến lược, sáng tạo, gây dựng niềm tin, nghĩ về lâu dài. Để phát triển lớn mạnh theo tầm vóc của mình, doanh nghiệp lớn cần có nhà lãnh đạo giỏi còn DNVVN nhiều khi chỉ cần có nhà quản lý tốt.
 
1. Lãnh đạo và xây dựng thương hiệu doanh nghiệp
 
Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang hết sức nỗ lực xây dựng thương hiệu, tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước và tham vọng hơn là vươn ra thị trường nước ngoài bằng nhiều chiến lược khác nhau. Tham vọng ấy, chiến lược ấy xuất phát chính từ lãnh đạo doanh nghiệp.
 
Nếu mục tiêu chủ yếu của lãnh đạo doanh nghiệp là xây dựng, duy trì và phát triển giá trị cho cổ đông thì xây dựng thương hiệu chính là cách tốt nhất để gia tăng giá trị đó. Hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn theo lối mòn truyền thống, tập trung đầu tư cho các loại tài sản hữu hình như nhà máy, đất đai, công xưởng…
 
Những tài sản vô hình như sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghệ và sản phẩm, hệ thống và thương hiệu nhìn chung ít được quan tâm thích đáng. Điều này được phản ánh thông qua tỷ lệ phần trăm giá trị tài sản vô hình so với tổng giá trị của doanh nghiệp tính trên thị trường – chỉ chiếm khoảng dưới 20% hoặc thậm chí thấp ngay cả tại những doanh nghiệp trong Danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam về doanh thu (VNR500).
 
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi cạnh tranh trên thị trường đồng nghĩa với việc buộc phải hạ giá các sản phẩm không tên tuổi, các doanh nghiệp châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng đang phải dần chuyển đổi nhận thức về sức mạnh của thương hiệu đối với việc thu hút khách hàng và khả năng tái sinh lợi lớn hơn trong đầu tư.
 
Lãnh đạo các doanh nghiệp lớn đã nhận ra rằng thay vì tiếp tục cạnh tranh bằng cách chấp nhận mức lợi nhuận khiêm tốn, có thể gia tăng thu nhập bằng các đầu tư vào thương hiệu. Đó là một sự thay đổi lớn trong tư duy, giúp các doanh nghiệp hướng tới việc tạo dựng một thương hiệu mạnh, tạo nên sự khác biệt và hệ quả tất yếu là lợi nhuận lớn hơn.
 
Câu hỏi đặt ra ở đây là vì sao Việt Nam chưa có các doanh nghiệp, các thương hiệu mạnh tầm cỡ khu vực và thế giới?
 
Ở châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn chưa có được những doanh nghiệp có thương hiệu mạnh (mà giá trị thương hiệu và tài sản vô hình có khi gấp nhiều lần giá trị tài sản hữu hình) là do: trình độ phát triển kinh tế của xã hội còn thấp, thiếu tập trung vào sự đổi mới, sự đa dạng hóa mở rộng của các hoạt động kinh doanh, cấu trúc của doanh nghiệp, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
 
Khác hẳn với những đồng sự của họ ở phương Tây, nhiều nhà lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam vẫn rất bảo thủ trong việc đầu tư vào các tài sản vô hình như thương hiệu. Công tác xây dựng thương hiệu bị đánh đồng với “truyền thông tiếp thị” (quảng cáo), bị hiểu như một khoản chi phí thuộc ngân sách tiếp thị trong báo cáo lãi lỗ, bị coi là nằm trong và thường chịu sự quản lý của bộ phận marketing vốn không được đề cao lắm trong cấu trúc doanh nghiệp.
 
Đồng thời, do tính chất đặc thù của các doanh nghiệp Việt Nam hầu hết thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu gia đình, nên lãnh đạo doanh nghiệp thường có tầm nhìn ngắn hạn trong đầu tư phát triển thương hiệu. Tầm nhìn này sẽ không hỗ trợ được cho doanh nghiệp trong việc xây dựng những thế mạnh để cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới. Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam với thương hiệu địa phương chỉ thực sự hiện hữu khi doanh nghiệp buộc phải tìm cách xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài.
 
Một trở ngại lớn trong xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp ở Việt nam là sự đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh, mở rộng tới nhiều ngành nghề trong lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp một cách chồng chéo và thiếu đồng bộ.
 
Cách tiếp cận phổ biến ở các lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam là chú trọng việc kinh doanh hơn là xây dựng thương hiệu, chú trọng đến doanh thu hơn là lợi nhuận.
 
Quả thật, rất khó để tạo ra một chiến lược thương hiệu hợp lý, rõ ràng và mang tính khác biệt, cũng như xây dựng được một thương hiệu có tầm cỡ khu vực khi doanh nghiệp tham gia một cách dàn trải vào đủ loại lĩnh vực kinh doanh.
 
2. Bước chuyển đổi trong tư duy và hành động của lãnh đạo doanh nghiệp
 
Điều cần thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam là khát khao của lãnh đạo cạnh tranh thành công trong tương lai, đạt được tổng lợi nhuận nhiều hơn và gia tăng sự trung thành của khách hàng.
 
Chọn thương hiệu như khâu mấu chốt để nâng tầm doanh nghiệp, nhận thức được các vấn đề như đã nêu trên, sự thay đổi phải xuất phát từ tư duy và hành động của lãnh đạo doanh nghiệp.
 
Trước hết cần làm sao để có bước chuyển đổi tư duy về thương hiệu: từ cái nhìn chiến thuật đến tầm nhìn dài hạn và mang tính chiến lược; từ các hoạt động marketing nhỏ lẻ đến các hoạt động xây dựng thương hiệu tổng thể; từ cách nhìn thương hiệu thuộc trách nhiệm của bộ phận marketing đến coi xây dựng thương hiệu là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất được dẫn dắt trực tiếp bởi lãnh đạo doanh nghiệp.
 
Hầu hết lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam thường ngại xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng. Thay đổi tư duy và hành động, lãnh đạo doanh nghiệp có thể tận dụng tối đa các cơ hội để giới thiệu và quảng bá cho thương hiệu của doanh nghiệp mình, cả ở trong nước và ngoài nước. Với cách tư duy đúng đắn và niềm tin vào thương hiệu, hành trình tiến lên phía trước của doanh nghiệp do lãnh đạo dẫn dắt sẽ có nhiều khả năng thành công.
 
Đồng thời với việc thay đổi tư duy, chú trọng vào xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp trong Danh sách VNR500 có thể hướng tới xây dựng thương hiệu quốc gia.
 
Mọi thương hiệu quốc gia đều cần đến những thương hiệu doanh nghiệp làm đại sứ. Đại sứ thương hiệu của một quốc gia không chỉ là các cơ quan chính phủ mà còn là các doanh nghiệp có triển khai hoạt động tại các thị trường nước ngoài hay bất cứ người dân nào mà du khách nước ngoài có dịp tiếp xúc.
 
Việt Nam cũng đang chú trọng đầu tư cho các thương hiệu doanh nghiệp làm đại sứ thương hiệu cho thương hiệu quốc gia. Kinh nghiệm của Malaysia là một ví dụ điển hình.
 
3. Tách biệt vai trò lãnh đạo và điều hành
 
Dường như những chuyện như xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, hướng tới để thương hiệu doanh nghiệp có thể làm đại sứ cho thương hiệu quốc gia là những chuyện xa xôi nhưng rõ ràng doanh nghiệp lớn phải nghĩ lớn, doanh nghiệp hàng đầu phải đi đầu.
 
Là người đứng đầu doanh nghiệp nên vai trò của lãnh đạo là vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng quyết định tới sự sống còn, thành công của doanh nghiệp.
 
Một lần nữa, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng mặc dù công tác điều hành doanh nghiệp, giữ cho doanh nghiệp hoạt động ổn định và đi đúng hướng cũng rất quan trọng nhưng để doanh nghiệp có những bước tiến mạnh mẽ, phải tách biệt vai trò lãnh đạo và điều hành.
 
Lãnh đạo là cấp xác định tầm nhìn tương lai cho doanh nghiệp và để thực hiện tầm nhìn, phải xây dựng được chiến lược phát triển lâu dài. Hình ảnh một nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải hội tụ đủ ba yếu tố: tầm, tài, tâm.
 
Tầm thể hiện được sự nhìn xa trông rộng; tài thể hiện được trình độ, khả năng lãnh đạo thông minh; tâm thể hiện trách nhiệm, niềm tin với người khác.
 
Nếu như lãnh đạo doanh nghiệp nhỏ hay cấp điều hành lo thực hiện chính sách, đi theo chính sách thì lãnh đạo doanh nghiệp có thể nghĩ đến chuyện tác động vào chính sách.
 
Hoạt động của các doanh nghiệp lớn trực tiếp hoặc thông qua cơ chế trung gian thực hiện vận động hành lang (lobby), tác động vào quá trình ban hành luật, vào quá trình hoạch định chính sách là hoạt động phổ biến, công khai ở các nước phát triển.
 
Các luật, chính sách được các doanh nghiệp vận động hành lang tất nhiên phải có lợi cho doanh nghiệp, tuy nhiên các luật, chính sách này chỉ được chấp nhận và triển khai khi không gây ảnh hưởng đến tình hình kinh tế chung hay mang tính cạnh tranh không lành mạnh.
 
Đóng góp cho quá trình xây dựng luật và hoạch định chính sách trong khuôn khổ pháp luật phải được coi là trách nhiệm quan trọng của lãnh đạo các doanh nghiệp.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
online
  • Kinh doanh

    Quản lý kinh doanh

    0982 55 66 97

    info@wasit.com.vn

    Kinh doanh 01

    0941.976.189

    sales@wasit.com.vn

    Kinh doanh 02

    0918.26.11.44

    sales01@wasit.com.vn

  • Kỹ thuật

    Kỹ thuật lỗi

    (08)6679.4200

    support@wasit.com.vn

    Kỹ thuật tư vấn

    (08)6679.4200

    kythuat@wasit.com.vn

    Kỹ thuật triểu khai

    (08)6679.4200

    kythuat@wasit.com.vn

Thống kê
  • Đang truy cập43
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm41
  • Hôm nay4,616
  • Tháng hiện tại140,090
  • Tổng lượt truy cập1,787,414
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây